Xung quanh vụ tranh cãi về VTM D dự phòng cho trẻ em

Xung quanh vụ tranh cãi về VTM D dự phòng cho trẻ em,
Mình bận quá hôm nay mới có chút thời gian ngồi xem tin nhắn. Thấy có mấy tin nhắn xoay quanh vụ tranh cãi dùng liều VTM D dự phòng cho trẻ nhỏ là 300 hay 400 đơn vị / ngày ?
Có bạn chụp gửi luôn cả màn hình vụ tranh cãi đó cho mình xem đọc thấy cũng buồn cười vì mình thấy cuộc tranh cãi nhau này là chuyện hơi thừa.
Vì mình vẫn nhấn mạnh nguyên tắc là không nhất thiết phải bổ sung VTM nói chung và VTM D nói riêng một cách đồng loạt cho trẻ em.
Một số tư liệu, sách vở lấy nguồn từ nước ngoài, đặc biệt ở một số nước phương tây thường thiếu nắng nên bác sĩ thường cho bổ sung VTM D liều thấp cho trẻ con dưới 18 tháng hoặc dưới 2 tuổi một cách đồng loạt hoặc gần như đồng loạt.
Nhưng ở Vn là nơi có rất nhiều nắng thì chỉ nên bổ sung vào mùa đông hoặc một số trường hợp đặc biệt thôi các bạn ạ.
Như vậy trường hợp nếu cần bổ sung, thì cũng không nhất thiết phải đồng loạt, liên tục.
Và liều 300 hay 400 đơn vị / ngày thì cũng được.
Vì một là liều lượng vitamin cũng như đa số thuốc đều có thể dao động trong một khoảng nào đó. Hai là bản thân việc cho dùng kiểu đại trà như vậy đã là không chính xác với mỗi đứa trẻ rồi. Ba là là nếu bạn dùng loại pha vào nước, thì còn có thể có chút hao hụt nữa đó.
Riêng mình thì luôn khuyên nếu bổ sung vi ta min, nên làm theo kiểu từng đợt, ví dụ một tuần dùng, một tuần nghỉ, rồi lại tiếp tục..nhằm cho cơ thể không mất phản xạ hấp thụ vi ta min tự nhiên từ thức ăn…
Mình gửi lại bài VTM cho các bạn tham khảo.
Khi nào nên bổ sung vi ta min (VTM) ?
Đây là một trong những câu hỏi mà mình rất hay nhận được. Vì vậy mình viết lại thành một bài ở đây để bạn nào cần thì tham khảo nhé.
1- Nguyên tắc chung là chỉ bổ sung VTM khi thực sự cần thiết. Khi ăn uống đầy đủ, khoẻ mạnh bình thường, không có vấn đề về sức khoẻ thì không cần.
2- Khi ốm đau, hoặc mệt mỏi, hoặc trong các cuộc đi xa cần nhiều sức khoẻ, thì có thể bổ sung chút vi ta min tổng hợp. Liều lượng thì nên dùng bằng nửa hoặc hai phần ba liều quy định ghi trong hướng dẫn sử dụng là được. Về thời gian thì không nên dùng quá hai tuần.
3- Về một số VTM và khoáng chất như Can xi, VTM D, sắt, phốt pho, kẽm…thì nếu cảm thấy thiếu nên đi xét nghiệm máu xem có thật sự thiếu không hãy bổ sung.
4- Khi cần bổ sung, nên ưu tiên chọn các loại chiết xuất tự nhiên nếu có thể.
5- Riêng đối với trẻ nhỏ dưới 12 hoặc 18 tháng thì bác sĩ ở nhiều nước thường cho bổ sung VTM D liều nhỏ. Nhưng vì ở VN rất nhiều nắng, vì vậy nếu có bổ sung, cũng chỉ nên/ cần dùng nếu trẻ được sinh ra vào mùa đông ít nắng, hoặc có vấn đề sức khoẻ không (hoặc rất ít) phơi nắng được.
6- Mình thấy ở VN nhiều người hay đánh đồng còi xương với thiếu Can xi, và vì muốn con cao lớn nên thường tự ý bổ sung Can xi cho con. Điều này không phải lúc nào cũng đúng.
Thường nếu chế độ ăn đầy đủ, không có vấn đề về chuyển hoá Can xi thì không cần uống thêm Can xi vì thừa cũng không tốt.
Khi trẻ hoặc một người có vấn đề về xương. Câu hỏi cần đặt ra là thiếu Can xi, phốt pho, hay VTM D, hay Magné, hay VTM C, hay thiếu protéine (đạm) ?
Vì VTM D giúp hấp thu Canci và Phốt pho, Magné, VTM C và chất đạm giúp cho xương được bền chặt, chắc chắn.
Vì vậy muốn bổ sung thì cần xét nghiệm và theo ý kiến của bác sĩ các bạn nhé.
Mình dính kèm dưới đây một số ý về một số loại VTM mình viết trong cuốn sách của mình. Và một bài viết về thuốc nói chung để bạn nào cần thì tham khảo thêm nhé.
1- Vitamin B1
Thiếu B1 sẽ có thể gây rối loạn tiêu hoá, mất cảm giác ngon miệng, ăn uống kém, nôn, tiêu chảy hoặc táo bón, nặng hơn có thể gây hiện tượng phù nề, cảm giác tê, nặng hơn nữa trẻ có thể bị liệt hoặc bị suy tim cấp.
B1 có mặt trong nhiều loại thực phẩm như gạo, đặc biệt là gạo lức, bột mì, mầm lúa, giá đỗ, một số loại rau, men bia…nhưng có đặc điểm là tan trong nước và bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Vì vậy muốn giữ được B1 nên hấp thức ăn hoặc nấu trong một lượng nước rất ít và đừng nấu nhừ.
2- Vitamin B2. Vitamin B2 có nhiều trong sữa, mầm lúa, giá đỗ, men bia tự nhiên,… Loại vitamin này bị phân huỷ bởi ánh sáng. Thiếu B2 thường gây triệu chứng viêm loét niêm mạc, giác mạc. bệnh này ít gặp.
3- Vitamin B9 (axít folic). Vitamin B9 quan trọng cho quá trình tạo máu của cơ thể, rất cần thiết cho bà mẹ mang thai và trẻ em.
Vitamin này có mặt trong gan, men bia sinh học, một số loại rau, mầm lúa mì, gạo lức, lòng đỏ trứng. Vitamin này cũng tan trong nước và bị phân huỷ dưới tác dụng của nhiệt độ môi trường.
4- Vitamin E là có tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ hệ miễn dịch.
Vitamin E có nhiều trong mầm lúa mì, dầu ô liu, dầu hướng dương. Loại vitamin này ít bị phân huỷ bởi nhiệt.
5- Vitamin C. Vitamin C có nhiều trong các loại rau quả nhưng dễ bị phân huỷ bởi nhiệt độ môi trường. Vì vậy cần mua loại rau quả tươi nhất có thể được, số lượng vừa phải để không giữ quá lâu, bảo quản ở ngăn mát của tủ lạnh cũng giúp giữ được phần nào vitamin C.
Loại vitamin này cũng tan trong nước, vì vậy khi chế biến các loại rau không nên cho quá nhiều nước.
Vitamin C tham gia vào quá trình tạo máu và làm bền thành mạch. Bệnh thiếu vitamin C hiếm gặp. Nhẹ thì trẻ chỉ thiếu máu nhẹ, biếng ăn. Nặng thì gây vỡ thành mạch, chảy máu ở các phủ tạng, dưới da.
6- Vitamin A. Vitamin A rất cần cho thị giác vì tham gia vào sự hình thành các tế bào võng mạc, có khả năng phối hợp với vitamin C ngăn chặn sự thoái hóa loại tế bào này, dẫn đến mù lòa. Nó còn có tác dụng làm giảm các bệnh đường hô hấp đặc biệt là viêm phổi, ngoài ra nó có tác dụng làm cho vết thương da mau lành, làm cho da trơn nhẵn.
Thiếu vitamin A có thể gây rối loạn thị giác, nhẹ thì quáng gà, nặng có thể viêm loét giác mạc rồi mù. Trẻ thiếu vitamin A có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn chậm lớn, hay bị viêm đường hô hấp, da và tóc khô.
Vitamin A có nhiều trong các loại rau quả có màu vàng, đỏ như bí đỏ, gấc, cà rốt (riêng đối với cà rốt, bạn có thể sẽ rất ngạc nhiên vì cà rốt héo cung cấp nhiều vitamin A hơn cà rốt tươi, cà rốt nấu chín cung cấp nhiều hơn cà rốt ăn sống. Vì khi đã héo hoặc được nấu chín, cấu trúc của chất sợi trong cà rốt bị phá huỷ và giải phóng được caroten – chất tiền vitamin A), đu đủ, các loại rau thẫm màu như rau ngót, lòng đỏ trứng, gan cá thu, một số loại cá,…
Vitamin A tan trong dầu mỡ nên chú ý khi chế biến thức ăn cần cho đủ lượng dầu mỡ.
Với những trẻ không được ăn uống đầu đủ hoặc hấp thu kém do bị bệnh thì có thể bổ sung vitamin A theo định kỳ của chương trình sức khoẻ quốc gia, những trẻ có chế độ ăn uống đầy đủ thì không cần bổ sung vì thừa vitamin A có thể gây chóng mặt, buồn nôn, nặng hơn có thể gây giòn hoặc biến dạng xương.
7- Vitamin D. Vitamin D kích thích sự hấp thu các chất dinh dưỡng có canxi và phôt pho, làm tăng lượng canxi trong máu ở xương, làm cho xương thêm rắn chắc. Vitamin D cũng có thể bổ sung trong trường hợp cần thiết nhưng cũng không nên lạm dụng.
Thừa vitamin D gây bứt rứt khó ngủ, buồn nôn hoặc nôn, chán ăn, tiêu chảy, nặng hơn sẽ làm cho lượng can xi trong máu tăng cao, làm thay đổi nhịp tim và tổn thương thận…
8- Canxi. Canxi có nhiều trong sữa, pho mai, trứng, vừng, thịt, cá, rong biển, đậu đỗ và một số loại rau cải.
Thiếu canxi có nhiều nguyên nhân, thường do ăn uống thiếu thốn, do bị bệnh nhất là bệnh đường tiêu hoá kéo dài hoặc do thiếu vitamin D nên cơ thể không hấp thụ được canxi.
9- Một số loại muối khoáng. Những muối khoáng cần thiết cho cơ thể có mặt trong hầu hết các loại rau quả, thịt cá, trứng. Tuy nhiên, cũng như vitamin, muối khoáng có trong thực phẩm thường bị phân huỷ bởi nhiệt độ và tan trong nước, vì vậy cách chế biến thức ăn tốt nhất để giữ muối khoáng là ít nước, hoặc hấp bằng hơi và nấu trong thời gian ít nhất có thể được.

33 Comments